a

Facebook

Twitter

Copyright 2017 Cilaw.
All Rights Reserved.

8:00 - 17:00

Thứ 2 - Thứ 6 (Thứ 7 8h-11h30)

097.446.1998

Hotline

Facebook

Twitter

Search
Menu
 

Tranh chấp tài sản khi hôn ước bị hủy bỏ.

Công Ty Luật TNHH Cilaw > Dân Sự  > Tranh chấp tài sản khi hôn ước bị hủy bỏ.

Tranh chấp tài sản khi hôn ước bị hủy bỏ.

            Sau thời gian tìm hiểu, tôi và A được cha mẹ tổ chức đám ăn hỏi khi chưa đăng ký kết hôn. Sau khi đã tổ chức đám hỏi, gia đình tôi coi A như dâu con trong nhà nên tại lễ ăn hỏi cha mẹ tôi cho A một cây vàng. Tuy nhiên, do mâu thuẫn, ghen tuông nên đám cưới không được diễn ra như dự định. Cha mẹ tôi cho rằng họ nhà gái là người đưa ra lời hủy hôn trước nên phải đòi lại trang sức, quà tặng trong lễ hỏi, nhưng nhà A không chịu trả với lý do lỗi là do tôi và quà đã cho là không được quyền đòi lại. Vậy luật sư cho tôi hỏi: Cha mẹ tôi có quyền đòi lại tài sản kia từ A không và yêu cầu đòi lại liệu có được chấp nhận không?

Vấn đề của bạn trên thực tế đang mang tính thời sự, có khá nhiều các quan điểm khác nhau xung quanh hiện tượng đang ngày càng phổ biến này. Thẳng thắn mà nói, hầu hết các quan điểm về vấn đề liên quan đều có xu hướng nhận định cảm tính và tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người thực hiện. Lý do dẫn đến tình trạng nêu trên là chúng ta chưa xây dựng được một hành lang pháp lý thực sự rõ ràng và hiệu quả nhằm điều chỉnh quan hệ mà tôi cho rằng hết sức phức tạp này. Đa số các quan điểm đều cho rằng quà đã trao tặng trong lễ ăn hỏi được quyền đòi lại nếu hủy hôn vì việc trao tặng quà này là “tặng cho tài sản có điều kiện” theo quy định tại điều 462 BLDS năm 2015. Cụ thể, khoản 1, điều 462 BLDS 2015 quy định: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Theo đó, tại khoản 3 cùng điều luật nêu rõ: “Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Như vậy, việc căn cứ để áp dụng điều khoản này đối với quan hệ trao tặng tài sản trước hôn nhân được xác định trên cơ sở người trao tặng và người nhận trao tặng “ngầm định” xác nhận với nhau rằng việc trao tặng này được thực hiện với điều kiện phải hướng đến quan hệ hôn nhân. Trong trường hợp không đi đến kết quả đã “xác nhận ngầm định” này thì bên trao tặng có quyền đòi lại tài sản đã trao tặng với lý do bên nhận tài sản đã không thực hiện điều kiện đã “ngầm định” với nhau trước đó. Trên thực tế, nhiều Thẩm phán của Tòa án các cấp đã vận dụng điều luật này để đưa ra phương hướng xét xử đối với các vụ tranh chấp có liên quan và được các luật sư, chuyên gia pháp lý đồng tình ủng hộ.

Đứng trên phương diện quan điểm cá nhân, tôi không hoàn toàn đồng ý với phương hướng giải quyết vấn đề và các nhận định theo số đông đối với các quan điểm như được nêu trên đây. Tôi bảo vệ quan điểm của mình theo hai hướng lập luận sau đây:

Thứ nhất, trong giao dịch dân sự, ý chí là sự thể hiện nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu tự thân của các chủ thể tham gia giao dịch. Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí chủ quan của chủ thể muốn thực hiện giao dịch có điều kiện để quyết định tham gia hay không vào một giao dịch dân sự cụ thể. Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch (Điều 118 Bộ luật Dân sự năm 2015). Mục đích của giao dịch chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Do vậy, hiểu theo nghĩa “có điều kiện” thì ý chí chủ quan, mong muốn của chủ thể ra điều kiện phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định, minh thị rõ ràng chứ không thể “ngầm định” được. Việc thể hiện ý chí “ngầm định” không có “tín hiệu” để một bên chủ thể còn lại có cơ sở chấp thuận hay không điều kiện đề ra. Hơn nữa, tại thời điểm trao tặng sính lễ thì quyền sở hữu tài sản đã được chuyển giao, theo đó, lúc này bên nhận trao tặng mới là bên được định đoạt tài sản. Việc hoàn trả lại tài sản trao tặng chỉ có cơ sở thực hiện khi “điều kiện” của chủ thể tham gia giao dịch được thể hiện bằng một hình thức cụ thể chứ không “ngầm định” được.

Thứ hai, giả sử việc trao tặng tài sản tại thời điểm diễn ra lễ ăn hỏi là việc trao tặng tài sản có điều kiện thì “điều kiện” ở đây được phải được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận về nghĩa vụ thực hiện sau khi phát sinh giao dịch, khi điều kiện xảy ra (lễ ăn hỏi), giao dịch dân sự phát sinh (hành vi trao tặng). Như vậy, điều kiện đã được thực hiện tại thời điểm diễn ra lễ ăn hỏi, hành vi trao tặng (phát sinh giao dịch) cũng được xuất hiện đồng thời. Xét về mặt lý luận, giao dịch chỉ được thực hiện khi có sự tham gia của hai chủ thể cùng nhau xác lập giao dịch là bên tặng cho (ra điều kiện) và bên nhận tặng cho (chấp nhận điều kiện). Nếu hai bên không thống nhất được về mặt ý chí các điều kiện đã thỏa thuận thì giao dịch không được xác lập. Vấn đề còn lại là cần phải xác định được điều kiện ở đây là sự kiện diễn ra lễ ăn hỏi hay phải phát sinh sự kiện tổ chức hôn lễ thì mới thỏa mãn điều kiện của người trao tặng. Trong trường hợp cho rằng nhận quà tại thời điểm diễn ra lễ ăn hỏi với điều kiện phải đi đến hôn nhân thì vô hình chung đã đi ngược lại với tinh thần của pháp luật về (i) nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện” theo khoản 1, điều 2, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014  và (ii) “quyền kết hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 39, Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, chúng ta cần nhận thức theo hướng, việc tặng cho này là giao dịch có điều kiện xuất hiện trên tinh thần tự nguyện của bên cho và bên nhận, việc phát sinh giao dịch và thỏa mãn điều kiện giao dịch đã được thực hiện đồng thời và bên nhận tặng cho không còn nghĩa vụ sau khi đám hỏi kết thúc. Quan trọng hơn, thời điểm sự kiện tặng cho chấm dứt đồng nghĩa với việc đã hoàn tất việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Điều này được pháp luật quy định rất rõ tại điều 238, BLDS 2015. Cụ thể: Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.”.

Từ những phân tích trên đây, tôi cho rằng không có cơ sở để cha mẹ bạn đòi lại tài sản đã trao tặng cho A (trừ trường hợp A tự nguyện hoàn trả lại tài sản được trao tặng) vì A đã thực hiện điều kiện của giao dịch với tư cách là một bên chủ thể khi tham gia lễ ăn hỏi (nếu có thỏa thuận về điều kiện bằng một hình thức nhất định). Sau đám hỏi là đã kết thúc một giai đoạn trong việc cưới xin theo phong tục. Trường hợp tiến tới hôn nhân thì ngày cưới là một giai đoạn mới, độc lập với ngày thực hiện lễ ăn hỏi và theo tập quán truyền thống của Việt Nam việc trao tặng của hồi môn lại được tiếp tục thực hiện tại ngày cử hành hôn lễ. Như vậy, một giao dịch mới lại được thiết lập và độc lập hoàn toàn với giao dịch đã hoàn thành trước đó.

Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều quan điểm đối lập với nhận định của tôi về vấn đề liên quan, nguyên nhân trực tiếp được xác định là chúng ta chưa có chế định cụ thể điều chỉnh quan hệ này một cách thiết thực và hiệu quả. Thời điểm Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 có hiệu lực, tại mục 3 của Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã từng đề cập đến vấn đề sính lễ trong ngày cưới, khi chia tài sản chung của vợ chồng, cụ thể: “Đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được tặng riêng trong ngày cưới là tài sản riêng, nhưng những thứ đó được cho chung cả hai vợ chồng với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn thì coi là tài sản chung. Khi chia tài sản chung, những trang sức có giá trị không lớn so với tài sản chung thì chia cho người đang sử dụng”. Biết rằng, văn bản này cũng chỉ đề cập đến tài sản được tặng cho trong ngày cưới chứ không điều chỉnh tài sản được tặng cho trong ngày diễn ra lễ ăn hỏi nhưng ít nhất trong giai đoạn này cũng đã có một cơ chế cụ thể làm cơ sở giải quyết các vấn đề liên quan tương ứng. Tuy nhiên, khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực thì Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không còn đề cập. Tương tự, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn cũng không đề cập đến vấn đề này.

Thiết nghĩ, trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao thì quà cưới, sính lễ trao tặng không còn mang ý nghĩa tinh thần nữa mà có giá trị vật chất rất lớn, được xem như một món hồi môn làm vốn cho các bạn trẻ tạo lập tương lai. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp với khối tài sản trao tặng giá trị cao này sẽ không tránh khỏi những diễn biến vô cùng phức tạp và để lại hậu quả khó lường. Nên chăng, các nhà hoạch định chính sách pháp lý cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ban hành các quy phạm pháp luật chuyên biệt nhằm điều chỉnh trực tiếp quan hệ dân sự này để tránh sự lúng túng, nhận định chủ quan của người tiến hành hoặc tham gia tố tụng khi giải quyết vụ việc nhằm giảm thiểu những hệ lụy phát sinh từ những quan hệ vốn được coi là thiêng liêng và thực sự có ý nghĩa này.

Luật sư Lưu Hoài Vũ

No Comments

Leave a Comment